SỨC KHỎE CỦA BẠN, SỨ MỆNH CỦA CHÚNG TÔI 

Làm thế nào để phát hiện và điều trị ung thư phổi?

Biên soạn: Ban biên tập VJMB 18/01/2018

Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các loại ung thư ở cả nam và nữ. Để phát hiện sớm ung thư phổi, người ta có thể tiến hành ít nhất một trong các phương pháp sau:  

- Chụp X-quang lồng ngực 
- Xét nghiệm tế bào đờm 
- Chụp CT 
- Chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc
- Chụp MRI
- Sinh thiết 
 

Chụp X-quang lồng ngực và xét nghiệm tế bào đờm là hai loại xét nghiệm thường được tiến hành đầu tiên trong quy trình kiểm tra ung thư phổi. 

Mô phỏng phương pháp chụp X-quang lồng ngực

Chụp X-quang lồng ngực là phương thức chiếu tia X vào lồng ngực để kiểm tra xem có xuất hiện hình ảnh đáng ngờ hay không.

Mô phỏng phương pháp xét nghiệm tế bào đờm

Xét nghiệm tế bào đờm là phương thức quan sát đờm của bệnh nhân dưới kính hiển vi để kiểm tra trong đó có lẫn máu hay tế bào ung thư hay không. Nếu nghi ngờ mắc ung thư, bác sĩ có thể tiến hành kiểm tra 2 - 3 lần. Thông qua nhiều lần kiểm tra như vậy, khả năng phát hiện ung thư sẽ cao hơn. 

Sau khi tiến hành hai phương pháp trên, nếu việc chẩn đoán vẫn gặp khó khăn, bác sĩ có thể sẽ tiến hành thêm cáchình thức kiểm tra khác như chụp CT, chụp CT xoắn ốc, chụp MRI… Thông qua những hình ảnh được chụp từ nhiều góc độ khác nhau, bác sĩ có thể xác định được tình trạng bệnh nhân một cách chi tiết hơn.  

Chẩn đoán xác định ung thư phổi (sinh thiết)

Mô phỏng phương pháp kiểm tra sinh thiết

Nếu những hình thức kiểm tra trên cho thấy những dấu hiệu đáng ngờ, bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra sinh thiết cuối cùng. Đây là phương thức thu thập tế bào tại mô, cơ quan có dấu hiệu bệnh, sau đó quan sát dưới kính hiển vi điện tử và làm giải phẫu bệnh để xác nhận đây có phải tế bào ung thư hay không. 

Nhìn chung, có hai phương pháp sinh thiết chính: phương pháp thứ nhất là đưa kẹp được gắn ở đầu đèn nội soi vào phế quản từ miệng, thu thập tế bào tại bộ phận nghi ngờ mắc bệnh; phương pháp còn lại sử dụng kim tiêm có đường kính khoảng 1mm để thu thập tế bào từ ngoài cơ thể. 

Nếu kết quả sinh thiết – giải phẫu bệnh cho thấy đó là tế bào ung thư, điều đó đồng nghĩa với việc bạn đã mắc ung thư phổi.

Phân loại sinh thiết ung thư phổi

Cấu tạo phổi

Nếu chỉ dựa trên hình ảnh thu được từ các phương pháp chụp chiếu, bác sĩ sẽ không thể kết luận chính xác được bệnh nhân có bị ung thư phổi hay không. Nếu phát hiện những dấu hiệu nghi ngờ khi kiểm tra bằng hình ảnh, bác sĩ sẽ tiếp tục tiến hành kiểm tra sinh thiết tại các cơ quan ở phổi bị nghi ngờ mắc bệnh.

Có một vài hình thức kiểm tra sinh thiết xác định ung thư phổi khác nhau, vậy nên, tùy theo bộ phận nghi ngờ bệnh mà phương pháp kiểm tra được lựa chọn cũng không giống nhau (ví dụ như các trường hợp xuất hiện dấu hiệu nghi ngờ ở vùng trung tâm phổi, khoảng chết của phổi hay trường hợp tràn dịch màng phổi).

1. Phương pháp kiểm tra khi có dấu hiệu bệnh ở rốn phổi - Nội soi phế quản

Những dấu hiệu bệnh ở rốn phổi (phế quản chính - cơ quan trung tâm của phổi) có thể thấy rõ ở những người hút thuốc lá thường xuyên. Tỷ lệ mắc ung thư phổi ở những đối tượng này lên tới khoảng 30%. Ngay từ giai đoạn đầu, bệnh nhận có thể dễ dàng nhận thấy các hiện tượng như ho khan, ho có đờm, vì vậy, nhiều trường hợp sẽ tiến hành kiểm tra bằng phương pháp xét nghiệm tế bào trong đờm. 
Khi xác nhận có dấu hiệu bệnh tại rốn phổi, thông thường người ta sẽ tiến hành nội soi phế quản. 

Phương pháp nội soi phế quản trong kiểm tra, chẩn đoán ung thư phổi

Trước khi tiến hành kiểm tra, bác sĩ sẽ gây tê tại chỗ và dùng thuốc giảm đau. Có thể xảy ra những biến chứng do kiểm tra như xuất huyết trong và sau khi kiểm tra, tràn khí màng phổi (phổi bị rách và xẹp xuống), sốt, dị ứng với thuốc gây mê...

Khi kiểm tra, người ta sẽ đưa ống nội soi phế quản vào từ miệng hoặc mũi. Nếu phát hiện thấy ổ bệnh, bác sĩ sẽ tiến hành lấy mô, tế bào tại khu vực đó. Thông thường, quá trình kiểm tra có thể kết thúc trong ngày.

2. Phương pháp kiểm tra khi có dấu hiệu bệnh tại khoảng chết của phổi

Trường hợp xác định có dấu hiệu bệnh đáng ngờ tại khoang phổi hay phế quản nhỏ bên trong phổi (thuộc phần khoảng chết của phổi), bác sĩ sẽ tiến hành các phương pháp kiểm tra phế quản nhỏ ống dẫn và sinh thiết phổi xuyên thành ngực (dùng kim tiêm). 

Những biến chứng bệnh ở khoảng chết phổi chiếm khoảng 60% số ca ung thư phổi. Những năm gần đây, số ca ung thư khoảng chết phổi đang tăng lên ngay cả ở Nhật Bản. Bệnh xuất hiện nhiều ở những người không hút thuốc, và gần như không hề xuất hiện triệu chứng cho đến khi ung thư di căn. 

Vì rất khó nhận biết các triệu chứng của bệnh nên có nhiều trường hợp bệnh nhân phát hiện chỉ có thể phát hiện dấu hiệu đáng ngờ khi tiến hành khám sức khỏe thông thường, khám sức khỏe toàn diện, chụp X-quang lồng ngực hay chụp CT lồng ngực.

2.1 Kiểm tra phế quản nhỏ ống dẫn (Kiểm tra nội soi phế quản dưới ống dẫn CT)

 Giống với kiểm tra nội soi phế quản, đây là hình thức kiểm tra có thể thực hiện trong ngày. Khi tiến hành, bác sĩ sẽ đưa ống nội soi phế quản đến khu vực có dấu hiệu bệnh bằng CT hoặc máy tính, sau đó thu thập mô, tế bào.

Phương pháp kiểm tra và các biến chứng của phương pháp này tương tự với phương pháp kiểm tra phế quản. Vì đây là phương pháp kiểm tra tương đối mới, nên không phải cơ sở nào cũng tiến hành thực hiện. Ngoài ra, phương pháp này cũng yêu cầu thời gian tiến hành lâu hơn so với kiểm tra phế quản thông thường.

2.2 Sinh thiết phổi xuyên thành ngực (dùng kim tiêm)

 Thông thường, bệnh nhân cần nhập viện từ 1 - 2 đêm để tiến hành kiểm tra. Bệnh nhân sẽ được gây mê tại chỗ, cho nằm sấp hoặc nằm ngửa, sau đó vừa hô hấp oxy vừa tiến hành kiểm tra.

Trong khi tiến hành kiểm tra, bác sĩ sẽ quan sát bên trong phổi bằng tia X-quang hoặc CT, sau đó chọc kim tiêm từ phần da của vùng có dấu hiệu bệnh đáng ngờ hướng về phía phổi để thu thập mô, tế bào.

Phương pháp sinh thiết này có thời gian kiểm tra tương đối ngắn, chỉ từ 15 - 30 phút. Các biến chứng có thể xảy ra sau khi kiểm tra bao gồm xuất huyết từ miệng và mũi, tràn khí màng phổi… Các biến chứng này dễ xảy ra hơn so với khi thực hiện kiểm tra nội soi phế quản, nên bệnh nhân cần phải nhập viện để tiện theo dõi.

3. Phương pháp kiểm tra khi tràn dịch màng phổi - Nội soi lồng ngực

Trong trường hợp đã tiến hành nội soi phế quản và sinh thiết phổi xuyên thành ngực (dùng kim tiêm) nhưng lượng tế bào thu thập vẫn chưa đủ, hay trong trường hợp tràn dịch màng phổi, người ta sẽ tiến hành kiểm tra nội soi lồng ngực.

Đây được xem như một dạng phẫu thuật ngoại khoa, người bệnh cần nhập viện từ 2 - 3 đêm để tiến hành kiểm tra. Người ta sẽ mở một vài lỗ có kích thước khoảng vài cm ở lồng ngực để đưa đèn nội soi và dụng cụ phẫu thuật vào. Sau đó, bác sĩ sẽ tiến hành thu thập mô và tế bào. Những biến chứng có thể xảy ra sau kiểm tra bao gồm xuất huyết, tràn khí màng phổi, viêm phổi, viêm màng phổi… 

Sau khi thu thập mô và tế bào, bác sĩ sẽ kiểm tra dưới kính hiển vi xem đó có phải tế bào ung thư hay không. Nếu câu trả lời là có, điều đó đồng nghĩa với việc bạn đã mắc ung thư phổi. Khi đó, bác sĩ sẽ tiếp tục thực hiện các chẩn đoán về mức độ di căn của khối u, tình hình tiến triển của bệnh… Sau khi có kết quả, bác sĩ mới đưa ra các phương pháp điều trị phù hợp. 

 

Nguồn tài liệu tham khảo:

1. Dịch vụ Thông tin Ung thư - Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Quốc gia (Nhật Bản)

2. Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Quốc gia (Nhật Bản)

3. Hướng dẫn khám và điều trị ung thư (Minds) - Japan Council for Quality Health Care (JCQHC)

4. Bệnh viện Ariake - Hiệp hội nghiên cứu Ung thư (Nhật Bản)

5. Cổng thông tin Sức khỏe - Y tế (KOMPAS) - Bệnh viện Đại học Keio

6. Các tài liệu tham khảo khác

Tư vấn trực tiếp