SỨC KHỎE CỦA BẠN, SỨ MỆNH CỦA CHÚNG TÔI 

Vaccine phòng ngừa ung thư cổ tử cung

Biên soạn: Ban biên tập VJMB 03/02/2018

Vaccine phòng ngừa ung thư cổ tử cung

1. Ung thư cổ tử cung và sự lây nhiễm virus HPV (Human Papillomavirus)

Virus HPV (Human Papillomavirus) có mối quan hệ mật thiết với sự phát sinh ung thư cổ tử cung. Có hơn 100 loại virus HPV, trong đó có 15 loại được xếp vào nhóm có nguy cơ cao gây ra ung thư cổ tử cung ở nữ giới. 

HPV là loại virus lây qua đường tình dục, và việc bị nhiễm HPV không phải là chuyện hiếm gặp. Có nhiều trường hợp cơ thể có thể tự tiêu diệt được virus này trước cả khi chúng ta nhận ra được triệu chứng của việc lây nhiễm virus. Tuy nhiên, nếu virus này không bị tiêu diệt hoặc cơ thể chúng ta liên tục bị nhiễm HPV, những dấu hiệu tiền ung thư và ung thư cổ tử cung sẽ có nguy cơ được hình thành.

Mặc dù vậy, người ta vẫn chưa biết rõ xác suất lây truyền virus HPV, xác suất virus HPV không bị tiêu diệt và tiếp tục lây nhiễm hay xác suất phát sinh dấu hiệu tiền ung thư và ung thư cổ tử cung là bao nhiêu. Thực tế cho thấy, virus HPV được tìm thấy ở trên 90% bệnh nhân mắc ung thư cổ tử cung, nhưng nhiều người nhiễm HPV lại không có dấu hiệu hay triệu chứng của bệnh và rất hiếm khi phát sinh ung thư.

2. Vaccine chống lây nhiễm HPV 

Sau khi được tiêm vào cơ thể, vaccine chống HPV sẽ tạo ra các kháng thể, từ đó giúp ngăn ngừa sự lây nhiễm HPV. 

Tính đến tháng 1/2012, ở Nhật có hai loại vaccine chống lây nhiễm HPV được bán*. Cả hai loại vaccine này đều có khả năng phòng ngừa cao đối với các loại ung thư gây ra bởi virus HPV số 16 và 18 (ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư biểu mô tuyến) cũng như các triệu chứng tiền ung thư. HPV 16 và 18 là hai trong số 15 loại virus HPV được xếp vào nhóm có nguy cơ cao gây ung thư cổ tử cung. Mặt khác, để đảm bảo hiệu quả của vaccine, khi tiến hành tiêm, bệnh nhân cần chú ý 4 điều dưới đây (được ghi trong hướng dẫn đi kèm vaccine):

1. Hiệu quả phòng ngừa ung thư cổ tử cung và các triệu chứng tiền ung thư do nhiễm HPV có tính kháng nguyên (nguyên nhân phát sinh ung thư) vẫn chưa được xác nhận đối với các loại virus HPV khác ngoài HPV 16 và 18.

2. Trong thời điểm tiêm chủng, nếu bạn đã bị lây nhiễm HPV, vaccine sẽ không có tác dụng xóa bỏ lây nhiễm hay ngăn ngừa sự phát triển của các bệnh đang mắc phải có liên quan đến virus HPV. 

3. Việc tiêm chủng không thể thay thế cho các hình thức kiểm tra ung thư cổ tử cung. Bên cạnh việc tiêm phòng ngừa HPV, bạn nên đồng thời thực hiện các kiểm tra ung thư cổ tử cung và chú ý phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

4. Đến nay vẫn chưa xác định được hiệu quả phòng ngừa có thể kéo dài bao lâu.

*Trong hai loại vaccine ngừa ung thư cổ tử cung, có một loại vaccine có hiệu quả trong việc phòng ngừa lây nhiễm cả virus HPV 6, 11 , 16 và 18, đồng thời có hiệu quả trong việc phòng ngừa khối u trong âm hộ, khối u trong âm đạo và bệnh sùi mào gà.

Khác với các loại ung thư khác, ung thư cổ tử cung là căn bệnh thường gặp ở những phụ nữ trẻ. Việc tiến hành tiêm vaccine cùng với kiểm tra ung thư cổ tử cung định kỳ sẽ giúp đem lại hiệu quả trong việc phòng ngừa và điều trị sớm. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa khuyến khích nhiều việc tiêm vaccine do vẫn chưa thể xác định rõ ràng và chi tiết các tác dụng phụ của nó.

3. Tính thiết yếu của việc kiểm tra ung thư cổ tử cung

Vaccine ngừa HPV không phải là thuốc điều trị và cũng không thể thay thế các hình thức kiểm tra ung thư cổ tử cung. Do đó, cùng với việc tiêm vaccine, chúng ta cần phải nắm vững, chính xác các kiến thức về ung thư cổ tử cung, đồng thời tiến hành kiểm tra ung thư cổ tử cung định kỳ để có thể phát hiện và điều trị sớm nhất. Vì căn bệnh này dễ phát sinh ở những phụ nữ trẻ, do đó lời khuyên đưa ra là chúng ta nên tiến hành kiểm tra ung thư cổ tử cung bắt đầu từ 20 tuổi. 

Tư vấn trực tiếp