SỨC KHỎE CỦA BẠN, SỨ MỆNH CỦA CHÚNG TÔI 

Ung thư phổi và các phương pháp điều trị (phần 2)

Biên soạn: Ban biên tập VJMB 23/01/2018

Ung thư phổi là căn bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong rất cao, đồng thời cũng là một trong những loại ung thư nguy hiểm nhất. Tuy nhiên, thực tế là người bệnh ung thư phổi vẫn có thể kéo dài thời gian sống, thậm chí ngay cả ở giai đoạn muộn nếu được điều trị bằng phương pháp phù hợp. Dưới đây là các phương pháp điều trị ung thư phổi tiêu biểu từ tiêu chuẩn đến tiên tiến:  

- Điều trị ngoại khoa
- Hóa trị 
- Xạ trị 
- Phương pháp điều trị ung thư phổi mới nhất (phương pháp laser, liệu pháp gen)
 

Hóa trị liệu ung thư phổi 

Tiến trình hóa trị liệu ung thư phổi

Với tỷ lệ điều trị hiệu quả lên tới khoảng 90%, hóa trị là phương pháp dễ đem lại hiệu quả với ung thư phổi, nhất là ung thư biểu mô tế bào nhỏ. 

Khi tiến hành hóa trị liệu ung thư biểu mô tế bào nhỏ, người ta sẽ sử dụng kết hợp các loại thuốc chống ung thư như Cisplatin, Irinotecan, Etoposide, Amrubicin… Ngược lại, tuy liệu pháp hóa trị không dễ đem lại hiệu quả với ung thư phổi không tế bào nhỏ, nhưng tỷ lệ điều trị hiệu quả cũng lên tới khoảng 50%. Tuy nhiên, đối với trường hợp ung thư di căn toàn thân, sử dụng thuốc chống ung thư thường không phải là liệu pháp điều trị phù hợp. 

Trong quá trình hóa trị liệu ung thư phổi không tế bào nhỏ, người ta thường kết hợp sử dụng các loại thuốc chống ung thư như Cisplatin, Carboplatin, Irinotecan, Vinorelbine, Gemcitabine, Paclitaxel, Docetaxel… Trong liệu pháp nhắm trúng đích phân tử - phương pháp điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ mới, người ta sử dụng các loại thuốc như Gefitinib, Erlotinib…

Phương pháp xạ trị trong điều trị ung thư phổi

Thông thường, người ta sẽ tiến hành xạ trị ung thư phổi kết hợp với sử dụng thuốc chống ung thư nhằm nâng cao hiệu quả trị liệu ung thư. 

Các thuốc chống ung thư có tính tương thích tốt với phương pháp xạ trị như Cisplatin và Etoposide thường được sử dụng, thuốc Irinotecan có tính tương thích kém với xạ trị. 

Dù áp dụng phương thức nào, có rất ít trường hợp bệnh nhân chỉ tiến hành duy nhất một phương pháp xạ trị. Thay vào đó, tùy theo từng thể trạng bệnh mà người ta sẽ kết hợp các biện pháp như phẫu thuật ngoại khoa hay hóa trị liệu. 

Phương pháp điều trị ung thư phổi mới nhất  

Phương pháp laser và liệu pháp gen là những phương pháp điều trị ung thư phổi mới nhất. 

Khi tiến hành phương pháp laser, bác sĩ sẽ đưa ống nội soi phế quản vào từ miệng, sau đó vừa quan sát trên màn hình, vừa chiếu tia laser từ đầu ống nội soi để đốt cháy tế bào ung thư. 

Vì phương pháp này gây ra phạm vi tổn thương lên phổi không lớn nên bệnh nhân sẽ không phải chịu nhiều đau đớn về thể xác. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn có những hạn chế nhất định về điều kiện phẫu thuật như: phạm vi ung thư nhỏ, vùng phẫu thuật chỉ được giới hạn trong phạm vi đèn nội soi và ống nội soi phế quản có thể di chuyển được.

Phương pháp còn lại có tên gọi là liệu pháp gen. Đây là phương pháp tiêm vào khối u những loại gen di truyền có tính ức chế ung thư, từ đó làm tế bào ung thư nhỏ lại, đồng thời làm tăng hiệu quả của thuốc hóa trị. Tuy nhiên đây vẫn là phương pháp rất mới, hiện mới chỉ dừng ở giai đoạn nghiên cứu.

Liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư phổi

Liệu pháp miễn dịch - phương pháp điều trị ung thư thứ 4

Khi nhắc đến các phương pháp điều trị ung thư, người ta thường nghĩ ngay đến ba phương pháp cơ bản: phẫu thuật ngoại khoa, hóa trị, xạ trị. Gần đây, liệu pháp miễn dịch đang thu hút được nhiều sự chú ý và được biết đến với tên gọi phương pháp điều trị ung thư thứ 4. Đặc biệt, thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch còn được kỳ vọng sẽ thay thế cho thuốc chống ung thư.

Trong cơ thể mỗi người vốn tồn tại tế bào có chức năng chống lại ung thư như tế bào T (cytotoxic T lymphocyte). Tuy nhiên, trong tế bào T lại có một vài phân tử có chức năng giống như những chiếc “phanh” để phòng ngừa, kiềm chế sự hoạt tính hóa quá độ của tế bào. Những phân tử đó được gọi chung là điểm kiểm soát miễn dịch. Chính những phân tử này sẽ gây cản trở đối với quá trình ức chế tế bào ung thư của tế bào T.

Người ta lợi dụng chức năng kiềm chế của điểm kiểm soát miễn dịch để tế bào ung thư có thể phát triển tự do và nhanh chóng. Sau đó, chức năng này sẽ bị hạn chế lại để tế bào T có thể tiếp tục chức năng ức chế ung thư vốn có của mình. Khi đó, sự phát triển của các tế bào ung thư cũng sẽ bị kiểm soát và hạn chế. Từ việc nghiên cứu quá trình này, người ta đã cho ra đời thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch.

Hiện tại, các nhà khoa học vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, phát triển loại thuốc này. Trong điều trị ung thư phổi, thuốc Opdivo (tên gọi thông thường là Nivolumab - thuốc kháng thể ức chế PD-1 đầu tiên trên thế giới được sản xuất tại Nhật Bản) đã được Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Xã hội Nhật Bản bắt đầu cho phép sử dụng trong việc điều trị ung thư tế bào hắc tố ác tính kể từ tháng 7/2014; thuốc Pembrolizumab (tên thông thường: Pembrolizumab, chưa được cho phép tại Nhật) và thuốc Yervoy (tên thông thường: Ipilimumab, thuốc kháng thể ức chế CTLA-4) đã được cho phép sử dụng trong điều trị chống ung thư tế bào hắc tố ác tính kể từ tháng 7/2015, hiện đang được đưa vào thử nghiệm giai đoạn III.

Tính hiệu quả và tính an toàn của các loại thuốc này đã được công nhận thông qua những thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III. Nếu được Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Xã hội Nhật Bản cho phép, trong tương lai, chúng sẽ được sử dụng trong điều trị ung thư phổi.

Tác dụng phụ của thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch

Ở thời điểm hiện tại, có rất ít báo cáo về các phản ứng nghiêm trọng xảy ra do sử dụng thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch. 

Các tác dụng phụ phổ biến bao gồm tiêu chảy và phát ban. Nhưng vì chúng có thể được kiểm soát bằng việc sử dụng kết hợp với các loại thuốc khác, nên những tác dụng phụ này không phải là vấn đề đáng lo ngại. 

So với nhiều loại thuốc chống ung thư khác, có thể nói thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch là loại thuốc có tác dụng phụ tương đối nhẹ. 

 

Nguồn tài liệu tham khảo:

1. Dịch vụ Thông tin Ung thư - Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Quốc gia (Nhật Bản)

2. Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Quốc gia (Nhật Bản)

3. Hướng dẫn khám và điều trị ung thư (Minds) - Japan Council for Quality Health Care (JCQHC)

4. Bệnh viện Ariake - Hiệp hội nghiên cứu Ung thư (Nhật Bản)

5. Cổng thông tin Sức khỏe - Y tế (KOMPAS) - Bệnh viện Đại học Keio

6. Các tài liệu tham khảo khác

Tư vấn trực tiếp